10/15/2015

2

Bài thuốc Nam điều trị sốt xuất huyết

Trong y học cổ truyền, sốt xuất huyết được xếp vào nhóm ôn bệnh và ôn dịch và được trị liệu bằng nhiều biện pháp khác nhau,xin được giới thiệu một số bài thuốc tiêu biểu điều trị sốt xuất huyết độ I và II, đơn giản, dễ kiếm ở nông thôn và vùng sâu, vùng xa.

Bài 1: Rau má 20g, cỏ mần trầu 20g, lá huyết dụ 20g, lá cối xay 20g, cỏ nhọ nồi sao cháy 40g, sắc đặc uống.

Bài thuốc Nam đơn giản điều trị sốt xuất huyết

Lá cối xay

Bài 2: Lá cối xay, lá bông mã đề (hoặc rau má hoặc cỏ mần trầu hoặc cỏ tranh) mỗi thứ 10 - 20g, cỏ nhọ nồi tươi 30 - 40g (nếu khô thì 15 - 20g), trắc bá diệp sao đen 12g (hoặc lá huyết dụ hoặc hoa hòe 16g), sắc uống trong ngày. Nếu có ban ngứa cho thêm rau sam 20g; nếu đại tiện táo cho thêm mồng tơi 20g hoặc rau sam 20g.

Bài 3: Lá cúc tần 12g, cỏ nhọ nồi 16g, bông mã đề 16g, trắc bá diệp sao đen 16g (nếu không có thì thay bằng kinh giới sao đen 12g), sắn dây 20g nếu không có thì thay bằng lá dâu 16g, rau má 16g, lá tre 16g, gừng tươi 3 lát, sắc với 600ml nước trong 30 phút, uống ấm, chia 3 lần trong ngày.

Bài 4: Sinh địa 12g, mạch môn 12g, hoa hòe 12g, huyền sâm 12g, cỏ nhọ nồi khô 30g, sắc với 3 bát nước, cô lại còn 1 bát chia uống 2 lần trong ngày. Dùng tốt cho trường hợp có xuất huyết dưới da, nôn hoặc đại tiểu tiện ra máu.

Bài 5: Rau diếp cá 100g, rau ngót 100g, cỏ nhọ nồi 50g, rửa sạch, vò với nước sôi để nguội, chia uống nhiều lần trong ngày.

Bài 6: Hành thái (sâm cau) sao đen 20g, trắc bá diệp sao đen 16g, cỏ nhọ nồi 12g, quả dành dành sao đen 8g, sắc với 600ml nước, cô lại còn 300ml, chia uống 6 lần trong ngày. Dùng tốt cho trường hợp sốt cao và đã có ban xuất huyết.

Bài 7: Cỏ nhọ nồi 20g, lá cối xay sao vàng 12g, rễ cỏ tranh 20g, sài đất 20g, kim ngân hoa 12g, hạ khô thảo sao qua 12g (nếu không có thì thay bằng bồ công anh 12g), hoa hòe 10g, gừng tươi 3 lát, sắc với 600ml nước trong 30 phút, uống ấm chia 3 lần trong ngày.

Bài thuốc Nam đơn giản điều trị sốt xuất huyết

Nhọ nồi

Bài 8: Cỏ nhọ nồi 20g, cam thảo 6g, hoạt thạch 12g (nếu không có thì thay bằng lá cối xay 12g), bông mã đề 16g (nếu không có thì thay bằng lá tre 16g, gừng tươi 3 lát, sắc với 600ml nước sạch trong 30 phút, uống ấm, chia 3 lần trong ngày. Khi hết sốt thì ngừng thuốc ngay.

Bài thuốc Nam đơn giản điều trị sốt xuất huyết

Hoa hòe

Lưu ý: Chỉ được dùng đơn thuần cho sốt xuất huyết độ I (người bệnh chỉ sốt, chưa có triệu chứng xuất huyết) và cấp độ II (người bệnh sốt có triệu chứng xuất huyết: xuất huyết dưới da, chảy máu cam, chảy máu chân răng, khạc ra máu, thậm chí nôn ra máu, tiểu ra máu hoặc kinh nguyệt kéo dài). Với độ III và IV (bệnh nhân có biểu hiện sốc và sốc nặng) nhất thiết phải sử dụng các biện pháp của y học hiện đại, các bài thuốc này chỉ có tác dụng hỗ trợ điều trị.

Theo ThS Hoàng Khánh Toàn - Sức khỏe và Đời sống

10/14/2015

1

CÂU KỶ TỬ

Kỷ tử có tác dụng gì? Cách sử dụng, mua kỷ tử ở đâu TP HCM. |  https://www.caythuocthiennhien.com/

Tên Việt Nam:

Kỷ tử, Câu khởi, Khởi tử, Địa cốt tử, Khủ khởi.

Tác dụng:

+ Bổ ích tinh huyết, cường thịnh âm đạo (Bản Thảo Kinh Tập Chú).

+ Bổ ích tinh bất túc,  minh mục, an thần (Dược Tính Bản Thảo).

+ Trừ phong, bổ ích gân cốt,  khử hư lao (Thực Liệu Bản Thảo).

+ Tư thận, nhuận phế (Bản Thảo Cương Mục).

+ Chuyên bổ thận, nhuận phế, sinh tân, ích khí, là thuốc chủ yếu bổ can thận chân âm bất túc, là thuốc tốt để ích tinh,  minh mụ c... (Bản Thảo Kinh Sơ)

+ Kỷ tử có tác dụng tư bổ can thận, sinh tinh huyết, minh mục, nhuận phế (Trung Dược Học).

+ Tư dưỡng Can Thận (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Chủ trị:

+ Trị  xoay xẫm, chóng mặt do huyết hư, thắt lưng đau, Di tinh, tiểu đường  (Trung Dược Học).

+ Trị các chứng can thận âm hư, âm huyết hư tổn, chứng tiêu khát, hư lao, khái thấu (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

Liều dùng: 8 – 20g.

Kiêng kỵ:

+ Câu kỷ tử có tính chất nê trệ, vì vậy,  thận trọng đối với những bênh nhân tỳ vị hư yếu, tiêu chảy kéo dài (Trung Dược Học).

+ Tỳ vị suy nhược, tỳ hư thấp trệ tiêu chảy cấm dùng, có ngoại tà thực nhiệt cấm dùng (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sá

Đọc thêm: http://thuochay.blogspot.com/search/label/k%E1%BB%B7%20t%E1%BB%AD

 

10/12/2015

0

Bài thuốc nam điều trị viêm đường mật

Viêm đường dẫn mật là tình trạng viêm nhiễm xảy ra tại đường dẫn mật trong gan hoặc ngoài gan, thường gặp ở người trẻ tuổi, nữ mắc nhiều hơn nam. Bệnh nhân thường đau ở vùng hạ sườn phải, đau lan đến vùng thượng vị, đau tức khó chịu, có khi đau dữ dội khiến bệnh nhân thường nằm co một chân, đau lan ra phía sau và lan lên vai phải.




Bệnh nhân thường sốt từ 39 - 400C, sốt kéo dài và âm ỉ, miệng đắng, ăn ít hoặc bỏ ăn, tiêu hóa rất chậm, người mệt mỏi, sút cân nhanh, vàng da vàng mắt, do dịch mật bị ứ lại. Đau - sốt - vàng da là 3 triệu chứng điển hình của căn bệnh này. Nguyên nhân gây bệnh thường do sỏi, do vi khuẩn, do can khí uất kết hoặc do thấp nhiệt. Nguyên tắc điều trị theo Đông y là chống viêm thanh nhiệt, lợi mật hóa thấp, nếu có sỏi thì cần phải bài thạch...

Sau đây là một số bài thuốc trị bệnh này:

Bài 1: đinh lăng 16g, lá đắng 10g, cỏ mần trầu 12g, ngân hoa 12g, chỉ xác 10g, bạch thược 12g, đan bì 10g, chi tử 12g, phòng sâm 12g, bạch linh 10g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần.
Bài 2: nhân trần 10g, hạ liên châu 12g, rau má 16g, đại hoàng 6g, bạch truật 12g, ích mẫu 12g, kim ngân 12g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần.
Bài 3: chỉ xác 10g, lá đinh lăng 50 - 60g. Hai thứ nấu lấy nước đặc, cho bệnh nhân uống dần, 2 - 3 lần liền, có tác dụng thông ống dẫn mật, khi đã thông được thì triệu chứng đau giảm đi rất nhanh.
Bài 4: đại hoàng 8g, kim tiền thảo 16g, bồ công anh 16g, kim ngân 16g, nhân trần 12g, cam thảo 12g, xa tiền 12g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần.
Bài 5: ngân hoa 12g, liên kiều 10g, mã đề thảo 16g, rau má 16g, bồ công anh 16g, đại hoàng 6g, bạch thược 12g, phòng sâm 12g, đan sâm 10g, ích mẫu 16g, cam thảo đất 16g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần. Công dụng: chống viêm, bài thạch, lợi gan mật.
Ngoài việc dùng thuốc, bệnh nhân có thể sử dụng bài trà dược như sau: râu ngô 80g, nhân trần 50g, hạ liên châu 50g, rau má 100g, lá đinh lăng 100g, cam thảo 80g, phòng sâm 80g, sâm hành 80g (dược liệu ở dạng khô). Các vị cắt ngắn, sao giòn, trộn đều, bảo quản trong bình kín tránh ẩm. Ngày dùng 35 - 40g, hãm nước sôi vào bình kín, sau 10 phút là có thể dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: chống viêm, thanh nhiệt, lợi mật hóa thấp. Những người bị viêm tắc ống mật, sỏi mật, da vàng, tiểu vàng, mắt vàng, ăn uống kém, tiêu hóa chậm, đau tức hạ sườn phải... dùng phương này rất phù hợp.
Lương y Trịnh Văn Sỹ

10/06/2015

0

Dị thảo quý như vàng chưa từng biết đến ở Hoàng Liên Sơn



Thất diệp nhất chi hoa có tác dụng ức chế trực tiếp sự phát triển của tế bào ung thư. Nhiều nghiên cứu của các chuyên gia Trung Quốc cho thấy, dịch chiết thất diệp nhất chi hoa đã góp phần kéo dài thời gian sống của những bệnh nhân bị ung thư dạ dày và ung thư phổi.

Cây thất diệp nhất chị hoa có 7 lá


Sở dĩ người Trung Quốc đặt tên nó như vậy, vì nó có 7 lá, với một bông hoa ở giữa. Người Việt gọi đơn giản nó là cây bảy lá một hoa. Tuy nhiên, đồng bào Hoàng Liên Sơn gọi nó là cây rắn cắn. Vì nó có tác dụng giải độc mạnh, chữa rắn cắn, nên gọi đơn giản như vậy.

Theo sách cổ và thử nghiệm lâm sàng của các nhà khoa học quốc tế, thất diệp nhất chi hoa có các hoạt chất đặc thù, làm giảm đau, giải độc, an thần.

Thảo dược này có những hoạt chất kết hợp với các hoạt chất khác trong các loại thảo dược khác với những liều lượng nhất định, thích ứng với từng giai đoạn, có thể khống chế được khối u, và điều tiết sự rối loạn chức năng của ty thể, loại trừ được tế bào ung thư.
Nó có tác dụng rõ rệt với ung thư gan, ung thư phổi, ung thư bàng quang và ung thư vú.




Khi mới trồng, loài thảo dược này chỉ có 5 lá

Lương y Thanh bảo tôi đếm xem mấy lá. Hóa ra, đây là cây có 9 lá, chứ không phải 7 lá. Do đó, không thể gọi là cây thất diệp nhất chi hoa, hay cây bảy lá một hoa được, mặc dù, chúng chỉ khác nhau là có nhiều hơn 2 lá.



Khi đạt độ cao nhất định, nó sẽ ra tới 9 lá


Bao nhiêu năm nay, lương y Thanh đã bí mật gieo trồng loài thảo dược này khắp núi non. Anh chọn những điểm kín đáo, những khe đá, để gieo trồng. Để thu hoạch được củ, ít nhất phải 10 năm.

Hiện lương y Thanh cũng thu hoạch được một số củ của loài dị thảo này, có củ nặng tới 1,5kg. Anh chủ yếu biếu bạn bè ngâm rượu uống giải độc và sử dụng trong một số bài thuốc gia truyền.

Người Việt hiện chưa biết sử dụng loài thảo dược này hiệu quả trong điều trị ung thư, tuy nhiên, người Trung Quốc thu mua với giá cả chục triệu đồng một kg.


Một củ "cửu dược nhất chi hoa" nặng tới 1,5kg



9/20/2015

2

Thìa là, Thì là - Anethum graveolens L

Thìa là, Thì là - Anethum graveolens L., thuộc họ Hoa tán - Apiaceae.


Mô tả: 

Cây thảo sống hằng năm có thân nhẵn cao 60-80cm hay hơn, khía rãnh dọc; có rễ trụ. Lá có bẹ rất phát triển, phiến xẻ 3 lần lông chim, có các phiến nhỏ hình sợi; các lá ở ngọn tiêu giảm, không có cuống. Cụm hoa ở ngọn, trên thân và trên các cành, thành tán kép gồm 5-15 tán nhỏ; các tán này mang 20-40 hoa màu vàng. Quả bế kép nằm trên một cuống quả rẽ đôi; quả hình trứng có 10 cạnh mà 4 cái ở mép nở dãn thành cánh dẹp.

Bộ phận dùng: Quả - Fructus Anethi Graveolentis.

Nơi sống và thu hái: Thìa là mọc hoang dại ở miền Nam châu Âu, một số nước Bắc Phi. Ta có nhập trồng chủ yếu lấy cành lá làm gia vị.

Thành phần hóa học: 

Trong lá và quả đều có tinh dầu mà thành phần chủ yếu là limonen, carvon (60%).

Tính vị, tác dụng: 

Tinh dầu của lá và quả có tính kích thích ăn ngon miệng và tiêu hoá. Quả Thìa là có tính chất tương tự Hồi và Tiểu hồi, nên thường dùng làm thuốc mạnh tỳ vị, làm dễ tiêu hoá, chống co thắt, thông kinh, gây tiết sữa và lợi tiểu.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: 

Lá Thìa là là rau gia vị món canh cá giấm, canh lươn, ốc; làm thơm ngon, lại át được mùi tanh. Quả được dùng để chữa chứng khó tiêu, nấc, nuối hơi, nôn mửa, đầy trướng, đau bụng,
Đau răng. Người ta dùng thuốc hãm 1-2 thìa cà phê hạt Thìa là trong một lít nước sôi hoặc dùng nước cất hạt 50-100ml trong ngày.

Còn dùng làm thuốc trị viêm thận, sỏi bàng quang, sỏi thận; người ta dùng 1 muỗng canh hạt Thìa là, giã nát cho vào ly, chế nước sôi vào hãm, chia làm 5-6 lần để uống trong ngày.

Cũng dùng chữa xơ vữa động mạch, Huyết áp cao, xơ cứng mạch não dẫn tới .Nhức đầu; dùng liều như trên nhưng chỉ uống 2 lần, liên tục trong nhiều ngày.

Khi có triệu chứng khó ngủ hoặc bị kích thích nhiều quá, cũng có thể uống trà Thìa là như trên trước khi ngủ. Có thể dùng lá tươi để thay hạt.


8/13/2015

0

Tác dụng của thảo dược Feverfew với cơn đau nửa đầu

Tác dụng của thảo dược Feverfew với cơn đau nửa đầu , Sử dụng thảo dược hạ mỡ máu

 

Cúc Feverfew là loại thảo dược được chuyên dùng cho chứng bệnh đau nửa đầu

Đau nửa đầu là một bệnh thuộc loại bệnh lý đau đầu do căn nguyên mạch, có đặc điểm bệnh lý cơ bản là: đau nửa đầu từng cơn, gặp nhiều ở tuổi thanh thiếu niên, ở nữ gặp nhiều hơn nam và đa số có yếu tố gia đình.

Thảo dược cũng được các nhà khoa học liệt kê trong danh sách các chất điều trị đau nửa đầu là Cúc Feverfew – một loại cây thuộc họ Cúc, được trồng nhiều ở châu Âu, Mỹ .

 

Thao duoc Feverfew tac dong len co che hinh thanh con dau nua dau 300x218 Tác dụng của thảo dược Feverfew với cơn đau nửa đầu

Thảo dược Feverfew làm giảm cường độ và tần suất cơn đau nửa đầu

 

Feverfew được công nhận và sử dụng rộng rãi nhất cho các cơn đau nửa đầu, bắt đầu từ thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên, và tới năm 1963, Feverfew được khuyến cáo để chữa những chứng đau đầu trong cuốn sách Gerad’s Herbal. Từ đó tới nay, rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để chứng minh cho những ghi chép về loại thảo dược này.

Feverfew đã được phổ biến ở Anh trong những năm 1980 để điều trị chứng đau nửa đầu. Một cuộc khảo sát 270 người với chứng đau nửa đầu ở Anh cho thấy hơn 70% trong số họ cảm thấy tốt hơn nhiều sau khi uống trung bình 2 – 3 lá tươi Feverfew mỗi ngày, tuần suất xuất hiện cơn giảm giảm đáng kể.

Một nghiên cứu khác,có kết hợp sử dụng Feverfew với aspirin, cho thấy, những người sử dụng theo kết hợp này trong 12 tuần, đã có chứng đau nửa đầu ít hơn và cơn đau không còn kéo dài.

Một nghiên cứu lâm sàng trong 3 tháng với 49 người phát hiện ra rằng sự kết hợp của Feverfew, magiê, và vitamin B2 dẫn đến sự sụt giảm 50% chứng đau nửa đầu.

Feverfew có tác dụng tốt trên chứng đau nửa đầu là do việc tác động lên cơ chế hình thành cơn đau của các hoạt chất sinh học chính trong Feverfew : các sesquiterpene. Các chất này có tác dụng ức chế quá trình kết tập tiểu cầu – quá trình có giải phóng mạnh mẽ serotonin, giảm giải phóng serotonin. Đồng thời, dịch chiết Feverfew còn có tác dụng ức chế tổng hợp prostaglandin, do đó làm giảm co cơ trơn mạch máu và ức chế kết tập tiểu cầu. Feverfew làm giảm triệu chứng nôn và buồn nôn trong bệnh đau nửa đầu nhờ tác dụng ức chế giải phóng histamine – chất gây buồn nôn, nôn.

Đã có rất nhiều các nghiên cứu thử nghiệm trên lâm sàng, kết quả cho thấy feverfew có tác dụng giảm cả cường độ và tần suất lặp lại cơn đau nửa đầu.

Trồng cây Fewer rất dễ, tót nhất trồng khi thời tiết ấm áp , gieo trực tiếp trên đất có án nắng và ít gió . Cây có thể tự mọc lại từ hạt giống của mình.

Hạt giống cây Fewerfew có thể mua ở các shop online như  Amazon, Vườn Thảo Mộc

0

Giá trị lâm sàng của thảo dược Feverfew (Tanacetum parthenium) trong phòng và điều trị Đau nửa đầu

image001

 

Sáng ngày 02/03/2014, tại hội trường K71, bệnh viện Quân y 103 đã diễn ra hội thảo “Đau: cơ chế bệnh sinh và kinh nghiệm điều trị”. Hội thảo được chủ trì bởi GS-TS Lê Đức Hinh, chủ tịch hội thần kinh Việt Nam; GS-TS Nguyễn Văn Chương , chủ tịch Hội chống đau Hà Nội;  MD. PhD. Uwe Reuter , Giám đốc trung tâm chống đau Greiz CHLB Đức, ngoài ra còn có sự góp mặt của hơn 100 bác sỹ đến từ các bệnh viện lớn như bệnh viện K Trung ương, bệnh viện Đại học Y Hà Nội.

GS-TS Lê Đức Hinh, chủ tịch hội thần kinh Việt Nam khai mạc hội thảo



Đau là một khái niệm rộng lớn, phức tạp, cần được phân loại, nghiên cứu kỹ về cơ chế bệnh sinh. Các loại đau khác nhau: đau nửa đầu, đau ung thư, đau do bỏng, đau trong Gây mê- hồi sức…cần có những hướng điều trị khác nhau. Mỗi bài báo cáo là một kinh nghiệm điều trị thực tế, một phương pháp điều trị mới được cập nhật.

“Đau nửa đầu thì chúng tôi biết đến khá nhiều nhưng lần đầu tiên tôi được nghe điều này”. Phát biểu của PGS-TS Phan Việt Nga, khoa Nội thần kinh, BV 103 sau khi nghe bài báo cáo “Giá trị lâm sàng của thảo dược Feverfew (Tanacetum parthenium) trong phòng và điều trị Đau nửa đầu”.

Bài báo cáo cung cấp số liệu mới nhất về thực trạng sử dụng thuốc điều trị đau nửa đầu.như trên 70% bệnh nhân đau nửa đầu chỉ sử dụng thuốc giảm đau để điều trị bệnh và lo lắng về tác dụng phụ khi sử dụng quá thường xuyên loại thuốc này. Đau nửa đầu, một bệnh lý đau thần kinh lại chỉ được điều trị như một triệu chứng đau đầu thông thường. Vai trò của việc dự phòng tái phát cơn đau đang bị coi nhẹ một cách đáng báo động.

Trên 70% bệnh nhân đau nửa đầu chỉ sử dụng thuốc giảm đau để điều trị bệnh

(khảo sát trên 109 bệnh nhân tháng 01/2014)

Trên 70% bệnh nhân đau nửa đầu lo lắng về tác dụng phụ của thuốc khi dùng lâu dài

(khảo sát trên 109 bệnh nhân tháng 01/2014)

Bài báo cáo cũng cập nhật một giải pháp an toàn từ thảo dược. Feverfew, có tên khoa học là Tannacetum Parthenium, thuộc họ Cúc (Asteraceae) được trồng khắp nơi trên thế giới, đặc biệt vùng Châu Âu, Bắc Mỹ. Đây là một trong những thảo dược đầu bảng phòng ngừa tái phát cơn đau nửa đầu. Năm 1978, một tạp chí sức khỏe nước Anh đã viết bài về một phụ nữ  68 tuổi mắc bệnh Đau nửa đầu mạn tính từ khi 16 tuổi đã dùng lá Feverfew và giảm hoàn toàn cơn đau nửa đầu trong vòng một vài tháng. Từ những thập niên 80, các bác sỹ tại Anh, Pháp, Canada đã sử dụng rộng rãi Feverfew trong ngăn ngừa tái phát cơn đau nửa đầu. Từ thập niên 90, các sản phẩm từ Feverfew trở thành sản phẩm bán chạy nhất tại Hoa Kỳ.

Ths. Nguyễn Hiền Lương giới thiệu về thảo dược Feverfew…

LiveJournal Tags:

 

Hạt Giống Feverfew - Tanacetum parthenium - TAN00018

Feverfew , Tanacetum parthenium L, thuộc họ Cúc (Asteraceae)  là loại thảo dược rất hiệu quả trong việc điều trị chứngđau nửa đầu kinh niên không rõ nguyên nhân.

Thời gian trồng thích hợp : Hè
Ngày trưởng thành :  85
Chiều cao : 60 cm
Ánh sáng : Chịu nắng
Độ ẩm : Ẩm ướt, thoát nước tốt
Đất : Trồng được trên nhiều loại đất khác nhau.
Công dụng : làm cảnh, trị bệnh , gia vị , chống muỗi.