7/30/2015

1

Công dụng chữa bệnh tuyệt vời từ lá tía tô



Tía tô là loại thảo dược vô cùng tốt cho sức khỏe. Không chỉ làm rau gia vị cho các món ăn, lá tía tô thường được biết đến với công dụng giải cảm hiệu quả. Bên cạnh đó, lá tía tô cũng có thể trị bệnh mất ngủ, căng thẳng thần kinh…

Tía tô có tên khoa học là Perilla frutescens hay còn gọi là é tía, tử tô, xích tô (gọi là tử, xích tía vì cây có màu tím). Không chỉ là một loại rau thơm, tía tô còn được dân gian coi là thảo dược, là một trong số khoảng 8 loài cây thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae hay Labiatae).

Tía tô vị cay, mùi thơm. Có 2 loại tía tô, đó là tía tô mép lá phẳng có màu tía nhạt, ít thơm; còn tía tô mép lá quăn màu tía sẫm, mùi thơm mạnh. Tía tô mép lá quăn có giá trị sử dụng làm thuốc hay hơn. Cây được trồng ở khắp nơi để làm thuốc và làm rau ăn.

Theo tin tức trên báo Sức khỏe và Đời sống, lá tía tô có tính ấm, vị cay, không độc. Lá dùng làm gia vị rất phổ biến đồng thời là vị thuốc rất hay dùng để trừ cảm mạo. Hạt làm trà uống và thuốc hạ khí, cành làm thuốc an thai. Trường hợp không có thì dùng thay thế cho nhau cũng được.
Công dụng chữa bệnh từ lá tía tô:

Chữa dị ứng
Khi dị ứng do ăn hải sản hay tiếp xúc lạnh, lấy ngay 1 nắm lá tía tô rửa sạch giã nát, vắt lấy nước cốt uống, còn bã đắp hay xát lên nơi ngứa, dị ứng sẽ khỏi. Lưu ý tránh gió và không được dầm nước.
Chữa chứng cảm mạo
Lấy lá tía tô tươi từ 15-20 g, giã nát, rồi cho nước sôi vào khuấy đều, gạn lấy nước uống. Hoặc lấy lá tía tô rửa sạch thái nhỏ sợi, trộn vào cháo ăn nóng rồi nằm đắp chăn cho ra mồ hôi sẽ khỏi cảm. Khi mồ hôi đã ra thì lấy khăn khô lau sạch và thay quần áo khác.


Có thể sử dụng lá tía tô để giải cảm


Bệnh về đường ruột
Uống nước trà lá tía tô giúp tăng cường sức khỏe hệ tiêu hóa và chữa trị các bệnh về đường ruột cũng như dạ dày. Khi dùng chung với lá bạc hà và các loại thảo dược khác, lá tía tô giúp xoa dịu triệu chứng khó tiêu, ợ nóng, đầy hơi, đau bụng...

Ngoài ra, thành phần kháng khuẩn có trong lá tía tô còn kích thích hệ miễn dịch, giúp xoa dịu các triệu chứng đau nhức cơ bắp.


Trị căng thẳng và mất ngủ
Mất ngủ và căng thẳng là căn bệnh phổ biến ngày nay. Kết hợp lá tía tô với các loại thảo dược khác như cúc La Mã (chamomile) hoặc cây nữ lang (valerian) có thể làm giảm 2 triệu chứng trên.

Bên cạnh đó, chất chống oxy hóa trong lá tía tô cũng có tác dụng ngăn ngừa sự phát triển của các gốc tự do gây hại cho tế bào, giúp ngừa bệnh ung thư.

Bảo An (tổng hợp)

7/29/2015

0

Bài thuốc nam điều trị viêm đường mật

Viêm đường dẫn mật là tình trạng viêm nhiễm xảy ra tại đường dẫn mật trong gan hoặc ngoài gan, thường gặp ở người trẻ tuổi, nữ mắc nhiều hơn nam. Bệnh nhân thường đau ở vùng hạ sườn phải, đau lan đến vùng thượng vị, đau tức khó chịu, có khi đau dữ dội khiến bệnh nhân thường nằm co một chân, đau lan ra phía sau và lan lên vai phải.


Bệnh nhân thường sốt từ 39 - 400C, sốt kéo dài và âm ỉ, miệng đắng, ăn ít hoặc bỏ ăn, tiêu hóa rất chậm, người mệt mỏi, sút cân nhanh, vàng da vàng mắt, do dịch mật bị ứ lại. Đau - sốt - vàng da là 3 triệu chứng điển hình của căn bệnh này. Nguyên nhân gây bệnh thường do sỏi, do vi khuẩn, do can khí uất kết hoặc do thấp nhiệt. Nguyên tắc điều trị theo Đông y là chống viêm thanh nhiệt, lợi mật hóa thấp, nếu có sỏi thì cần phải bài thạch...

Sau đây là một số bài thuốc trị bệnh này:


Bài 1: đinh lăng 16g, lá đắng 10g, cỏ mần trầu 12g, ngân hoa 12g, chỉ xác 10g, bạch thược 12g, đan bì 10g, chi tử 12g, phòng sâm 12g, bạch linh 10g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần.
Bài 2: nhân trần 10g, hạ liên châu 12g, rau má 16g, đại hoàng 6g, bạch truật 12g, ích mẫu 12g, kim ngân 12g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần.
Bài 3: chỉ xác 10g, lá đinh lăng 50 - 60g. Hai thứ nấu lấy nước đặc, cho bệnh nhân uống dần, 2 - 3 lần liền, có tác dụng thông ống dẫn mật, khi đã thông được thì triệu chứng đau giảm đi rất nhanh.
Bài 4: đại hoàng 8g, kim tiền thảo 16g, bồ công anh 16g, kim ngân 16g, nhân trần 12g, cam thảo 12g, xa tiền 12g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần.
Bài 5: ngân hoa 12g, liên kiều 10g, mã đề thảo 16g, rau má 16g, bồ công anh 16g, đại hoàng 6g, bạch thược 12g, phòng sâm 12g, đan sâm 10g, ích mẫu 16g, cam thảo đất 16g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần. Công dụng: chống viêm, bài thạch, lợi gan mật.
Ngoài việc dùng thuốc, bệnh nhân có thể sử dụng bài trà dược như sau: râu ngô 80g, nhân trần 50g, hạ liên châu 50g, rau má 100g, lá đinh lăng 100g, cam thảo 80g, phòng sâm 80g, sâm hành 80g (dược liệu ở dạng khô). Các vị cắt ngắn, sao giòn, trộn đều, bảo quản trong bình kín tránh ẩm. Ngày dùng 35 - 40g, hãm nước sôi vào bình kín, sau 10 phút là có thể dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: chống viêm, thanh nhiệt, lợi mật hóa thấp. Những người bị viêm tắc ống mật, sỏi mật, da vàng, tiểu vàng, mắt vàng, ăn uống kém, tiêu hóa chậm, đau tức hạ sườn phải... dùng phương này rất phù hợp.
Lương y Trịnh Văn Sỹ

1

Cách giải độc gan hiệu quả mà không phải uống thuốc


Gan là bộ phận vô cùng quan trọng giúp đào thải các độc tố trong cơ thể. Vì vậy cần phải có biện pháp giải độc gan để có cơ thể khỏe mạnh.





Dấu hiệu chứng tỏ gan của bạn đang bị nhiễm độc


Da vàng


Khi gan của bạn bị nhiễm độc các chất độc sẽ tích tụ bên trong cơ thể sau đó phát ra bên ngoài khiến phần da của bạn bị đổi màu.


Da đổi màu là do chất bilirubin - một sắc tố trong mật được tạo ra trong gan của bạn để giúp quá trình tiêu hóa và chúng làm cho da của bạn bị vàng đi.


Da nhạy cảm


Một nghiên cứu năm 2013 của Học viện Da liễu Mỹ đã phát hiện ra rối loạn về đông máu và rối loạn gan có mối liên hệ với sự nhảy cảm về da. Điều này chứng tỏ sự nhạy cảm của da có liên quan đến chức năng của gan.


Theo Bác sĩ Cindy Owen của Học viện Da liễu Mỹ nhận định rằng những người bị nhiễm độc gan thường sẽ có sự phát ban, nổi mụn, thay đổi kết cấu da,…





Hàm lượng cholesterol trong máu tăng lên


Gan có chức năng xử lý cholesterol, khi gan bị nhiễm độc lượng cholesterol trong máu sẽ tăng lên.


Trong 1 ấn phẩm năm 2005 của Trường Y khoa Harvard cũng đã được giải thích về vai trò của gan trong việc sản xuất cholesterol và tuần hoàn máu.


Do đó, khi lượng cholesterol trong máu tăng lên bạn nên đi khám gan ngay để có phương pháp giải độc cho gan.


Mất cảm giác ngon miệng và mệt mỏi


Khi gan bị nhiễm độc không có khả năng đào thải độc tố thì nó sẽ phản ứng với Cytokines, lần lượt kích hoạt các các chứng viêm trong cơ thể.


Nồng độ Cytokines tăng lên sẽ khiến bạn cảm thấy chán ăn, miệng khô, mệt mỏi,…


Chướng bụng


Đây là biểu hiện của việc ứ dịch trong ổ bụng do gan không có khả năng đào thải.Nó là sự biến chứng của bệnh xơ gan.


Làm sạch gan không cần đến thuốc


Để làm sạch gan, giải độc cho gan bạn không cần phải dùng đến thuốc hay các thực phẩm chức năng mà hãy ăn ngay những loại củ có tác dụng giải độc gan cực nhạy.





Ăn củ tỏi


Đây là loại gia vị có sẵn trong bếp của mọi nhà vì vậy bạn chỉ cần ăn những món ăn có chế biến từ loại gia vị này để giải độc gan. Nếu có thể ăn sống trực tiếp hiệu quả của nó còn tốt hơn nhiều.


Trong tỏi có chất Allicin và selen có tác dụng làm sạch gan, đồng thời tỏi còn có tác dụng kích hoạt, phục hồi lại các enzym trong gan và giải độc gan hiệu quả.


Ngoài ra ăn tỏi thường xuyên còn giúp bạn tăng cường hệ tim mạch, điều hòa huyết áp và tăng cường sức đề kháng cho cơ thể.


Ăn củ nghệ


Nghệ không chỉ nổi tiếng lá thần dược của dạ dày mà nó còn là bạn đồng hành hiếm có của lá gan.


Các hoạt chất trong nghệ có tác dụng điều hòa cholesterol trong máu, làm giảm tính viêm và bảo vệ gan tránh được tác động tiêu cực của gốc tự do. Do đó, dùng nghệ để giải độc gan là một liệu pháp cực cực công hiệu.


Bạn có thể dùng bột nghệ hay nghệ tươi để kho cá, kho thịt, nấu cà ri,…ăn nghệ tùy theo ý thích của bạn để có tác dụng tốt nhất cho gan, dạ dày mà hệ tuần hoàn máu.


Ăn củ gừng


Gừng cũng là một loại gia vị cực quý. Người ta thường kết hợp nước chanh gừng để giải độc gan vfa thanh lọc cơ thể hàng ngày.


Mỗi ngày 1 cốc nước chanh và vài lát gừng sẽ giúp bạn có sức đề kháng tốt, và một lá gan khỏe mạnh.


Đồng thời bạn nên có chế độ ăn uống lành mạnh để thúc đẩy quá trình giải độc gan có hiệu quả hơn nhé!


Phòng tránh nhiễm độc gan


Gan bị nhiễm độc là do chế độ ăn uống sinh hoạt của bạn không hợp lý để phòng ngừa sự nhiễm độc cho gan:


- Tăng cường ăn các loại rau màu xanh đậm vì chúng rất giàu chlorophy II thực vật giúp loại độc tố rất tốt.


- Không uống quá nhiều rượu bia.


- Ăn nhiều các thực phẩm tăng cường hệ miễn dịch cho gan như cà rốt, củ cải,…


- Uống thật nhiều nước, ít nhất là 1,5-2 lít nước mỗi ngày.


- Tránh thức khuya, làm việc quá sức.


- Ăn nhiều các loại trái cây họ cam quýt để ngăn chặn các gốc tự do, tăng hệ miễn dịch cho gan.

6/09/2015

0

thuốc từ cây huyết dụ



Cây huyết dụ thường được trồng làm cảnh. Có 2 loại cây huyết dụ. Một loại lá đỏ cả 2 mặt và một loại lá đỏ một mặt, còn mặt kia lá có màu xanh. Cả 2 loại đều được Đông y dùng làm thuốc. Theo Đông y huyết dụ có vị nhạt, hơi đắng, tính mát, có tác dụng bổ huyết, tiêu ứ, cầm máu dùng chữa chứng kiết lỵ, rong kinh, phong thấp nhức xương, xích bạch đới...

Lưu ý: phụ nữ trước khi sinh con và sau khi sinh mà bị sót nhau thì không được dùng thuốc có vị huyết dụ.

Trị chứng rong kinh: Lấy 20g lá huyết dụ, 10g rễ cỏ tranh, 10g đài tồn tại trên quả mướp, 10g rễ gừng. Tất cả mang thái nhỏ sắc với 400ml nước còn 100ml. Chia uống làm 2 lần trong ngày.

Trị chứng trĩ ra máu, đái ra máu, băng huyết: Lấy 20g lá huyết dụ tươi rửa sạch. Đổ 200ml nước vào sắc còn 100ml, chia uống trong ngày.

Trị chứng chảy máu cam, cháy máu dưới da: Lấy 30g lá huyết dụ tươi, 20g cỏ nhọ nồi, 20g lá trắc bá (sao cháy) sắc kỹ uống đều đến lúc khỏi.

Trị chứng kiết lỵ ra máu: Lấy 20g lá huyết dụ, 12g cỏ nhọ nồi, 20g rau má. Rửa sạch, giã nát, thêm ít nước sôi để nguội, gạn lấy nước thuốc uống. Dùng 2 - 3 ngày, nếu không giảm thì đến khám bệnh để được điều trị dứt điểm.

Trị chứng phong thấp đau nhức, bị thương ứ máu: Lấy 30g hoa, lá, rễ cây huyết dụ, 15g huyết giác. Sắc uống đến lúc có kết quả.

Trị chứng ho ra máu: Lấy 16g lá huyết dụ, 16g lá trắc bá sao đen. Đổ 400ml nước sắc còn 200ml chia uống làm 2 - 3 lần trong ngày.

BS Nguyễn Thị Thêu

6/07/2015

1

Dừa cạn trở thành niềm hy vọng cho những bệnh nhân mắc ung thư !

1. Mô tả:

Cây dừa cạn hay còn có tên gọi khác là rau dừa, cây hoa trường xuân, tứ thời hoa, bông dừa, cây sừng dê, cây nhật tân, cây hoa hải đăng ... tùy theo từng địa phương.

Dừa cạn có tên khoa học của nó là Vincarosealin hay Catharanthus Roseus (L.) G.Don thuộc họ trúc đào (Apocynaceae). Cây có nguồn gốc xuất xứ ở đảo Madagascar thuộc châu Phi nhưng được trồng ở nước ta rất nhiều để làm cảnh và làm thuốc.

Dừa cạn thuộc loại cây thân cỏ, cao chừng 0,4 - 0,8m, có nhựa màu trắng.

Lá cây: Lá dừa cạn hình bầu dục, thuôn hẹp ở gốc, có cuống ngắn.

Hoa: Hoa dừa cạn mọc thành cụm, cụm hoa gồm 2 bông mọc ra từ kẽ lá. Hoa có nhiều màu, màu đỏ, hồng, trắng với đốm vàng hay đỏ ở gần họng tùy theo chủng. Hoa có cánh hợp thành ống hẹp dài, ở phía trên chia 5 thùy.

Quả: Quả dừa cạn gồm 2 đại, nhiều hạt đen nhỏ.

Phân bố: Dừa cạn là loại cây mọc hoang. Ở nước ta loại cây này phân bố từ tỉnh Quảng Ninh đến Kiên Giang dọc theo vùng ven biển, tương đối tập trung ở các tỉnh miền Trung như Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Ðà Nẵng, Bình Ðịnh và Phú Yên.

2. Dược tính:

Người ta chỉ mới phát hiện ra những dược tính của dừa cạn trong việc áp dụng chữa bệnh vì trong tài liệu cổ của y học cổ truyền không thấy đề cập đến cây này.

Tuy vậy, y học cổ truyền một số nước cũng có ghi lại một vài kinh nghiệm sử dụng dừa cạn để chữa bệnh. Ví dụ, ở Ấn Độ, châu Úc, nam châu Phi, quần đảo Antilles, người ta dùng dừa cạn sắc uống để chữa bệnh tiểu đường cho thấy kết quả rất khả quan.

Ngoài ra, rễ dừa cạn còn được dùng để tẩy giun, chữa sốt, làm thuốc thông tiểu, điều kinh, trị tăng huyết áp, chữa sốt rét, kiết lị, tiêu hóa kém...

Bộ phận dùng để làm thuốc của dừa cạn là rễ, lá hoặc cả cây. Thông thường, người ta thường nhổ nguyên cả bụi cây dừa cạn về rửa sạch, cắt nhỏ, phơi khô để cất dùng dần. Trước khi sử dụng có thể sao qua cho thơm rồi sắc nước uống.

Tùy theo mục đích trị liệu, dừa cạn có thể được phối hợp với các vị thuốc khác hoặc dùng độc vị.

Năm 1958, xuất phát từ kinh nghiệm dùng dừa cạn chữa khối u của người dân Ấn Độ, các nhà khoa học Canada là Noble và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu và phát hiện chất kháng ung thư trong lá cây dừa cạn là vincaleucoblastine (còn gọi là Vinblastin).

4 năm sau, Svoboda và cộng sự cũng tìm thêm một alkaloid nữa là Vincaleucocristin (còn gọi là vincristin).

Những thực nghiệm lâm sàng cho thấy, chiết xuất vinplastin, vincristin có tác dụng làm giảm bạch cầu, ức chế mạnh sự phân bào.

Các alkaloid này liên kết đặc hiệu với Tubulin, là protein ống vi thể ở thoi phân bào, phong bế sự tạo thành các vi ống này và gây ngừng phân chia tế bào ở pha giữa. Ở nồng độ cao, thuốc diệt được tế bào, còn ở nồng độ thấp làm ngừng phân chia tế bào.

Hàm lượng các alkaloid này trong dừa cạn rất nhỏ (khoảng 1 phần vạn trong lá dừa cạn khô đối với Vinblastin còn đối với Vincristin thì ít hơn 10 lần nữa ). Vì thế, quá trình điều chế hai alkaliod từ cây dừa cạn là 1 quá trình phức tạp và chi phí giá thành cao.

Hiện nay người ta đã tìm cách sinh tổng hợp hoặc bán tổng hợp hai loại alkaloid trên để giảm giá thành của thuốc.

Dừa cạn trồng ở Việt Nam chứa khoảng 0,1 – 0,2% alkaloid toàn phần. Trong đó, loại hoa trắng có tỷ lệ hoạt chất cao nhất. Tỷ lệ alkaloid trong rễ (0,7 – 2,4%) cao hơn trong thân (0,46%) và lá (0,37 – 1,15%).

3. Dừa cạn dùng để chữa ung thư như thế nào?

Chiết xuất alkaloid trong dừa cạn được dùng dưới dạng muối sulfat để chữa bệnh ung thư.

- Vinblastin sulfat: Vinblastin sulfat được coi là lựa chọn hàng đầu để điều trị ung thư biểu mô tinh hoàn, ngoài ra nó rất hiệu quả trong liệu pháp trị bệnh Hodgkin, ung thư nhau, ung thư biểu mô da đầu và ung thư biểu mô thận.

Vinblastin sulfat cũng dùng để điều trị u nguyên bào thần kinh, ung thư vú, ung thư cổ tử cung và ung thư dạng nấm da.

- Vincristin sulfat: Là một trong những thuốc chống ung thư được dùng rộng rãi nhất, đặc biệt có ích đối với các bệnh ung thư máu, thường được dùng để làm thuyên giảm bệnh bạch cầu lympho cấp.

Đây là lựa chọn hàng đầu để điều trị bệnh Hodgkin, u bạch huyết không - Hodgkin, ung thư biểu mô phổi, u Wilm, bạch cầu tủy bào mạn (đợt cấp tính), sarcom Ewing và sarcom cơ vân.

Ngoài ra, ở dạng dùng phối hợp, Vincristin sulfat còn được dùng cho ung thư biểu mô vú, ung thư cổ tử cung, u nguyên bào thần kinh và bệnh bạch cầu lympho mạn tính.

Nhân dân ta đã có bài thuốc chữa bạch cầu cấp ( bệnh máu trắng) bằng cách sắc uống thân và lá cây dừa cạn ( khoảng 15 gam thân lá khô/ngày).

0

Câu kỷ tử– Goji Berries

Được sử dụng bởi các thiền sư Tây Tạng như 1 thuốc thảo dược và thực phẩm quan trọng từ xa xưa, Goji berries là loại quả giàu dinh dưỡng nhất trên hành tinh chứa nhiều vitamin A, C và B12, cũng như các khoáng chất đồng, magiê, selen, kẽm và kali.

Goji Berries 1

6/04/2015

0

Công dụng chữa bệnh trĩ của rau diếp cá

Rau diếp cá được biết tới như một vị thuốc chữa bệnh trĩ rất hiệu quả. Nó có tác dụng chống nhiễm khuẩn, chống vi khuẩn, nâng cao sức đề kháng và lợi tiểu.

Rau diếp cá đã được nghiên cứu từ rất lâu và được biết đến với vị chua cay, tính mát có tác dụng thanh nhiệt, sát khuẩn ...rất tốt. Trong việc điều trị bệnh trĩ có tác dụng rất quan trọng.

Rau diếp cá đã được nghiên cứu từ rất lâu và được biết đến với vị chua cay, tính mát có tác dụng thanh nhiệt, sát khuẩn ...rất tốt. Trong việc điều trị bệnh trĩ có tác dụng rất quan trọng.

Khi các búi trí ra ngoài hậu môn:  Lấy muối ăn hòa với nước, rửa sạch dom rồi giã nhỏ lá diếp cá đắp vào, băng lại làm như vậy mỗi ngày một lần vừa giúp các búi trĩ không bị sa xuống mà còn diệt khuẩn không làm bệnh tiến triển nặng thêm.

Khi các búi trí ra ngoài hậu môn: Lấy muối ăn hòa với nước, rửa sạch dom rồi giã nhỏ lá diếp cá đắp vào, băng lại làm như vậy mỗi ngày một lần vừa giúp các búi trĩ không bị sa xuống mà còn diệt khuẩn không làm bệnh tiến triển nặng thêm.

Trĩ sưng đau: Lá rau diếp cá cho vào nồi nấu sôi rồi đem xông trực tiếp vào hộ môn khi cảm thấy nước ấm ấm thì rửa xong rồi đắp bã lá vào vết thương.  Nếu trĩ ra máu, lấy lá diếp cá, bạch cập phơi khô, tán bột. Ngày uống 6 - 12 gr, chia làm 2 - 3 lần.

Trĩ sưng đau: Lá rau diếp cá cho vào nồi nấu sôi rồi đem xông trực tiếp vào hộ môn khi cảm thấy nước ấm ấm thì rửa xong rồi đắp bã lá vào vết thương. Nếu trĩ ra máu, lấy lá diếp cá, bạch cập phơi khô, tán bột. Ngày uống 6 - 12 gr, chia làm 2 - 3 lần.

Thạc sĩ, Dược sĩ Đoàn Xuân Đinh, Khoa Dược, viện Y học cổ truyền Quân đội cũng cho biết, mùi tanh tanh của rau diếp cá khi vò ra chính là tinh của nó.

Thạc sĩ, Dược sĩ Đoàn Xuân Đinh, Khoa Dược, viện Y học cổ truyền Quân đội cũng cho biết, mùi tanh tanh của rau diếp cá khi vò ra chính là tinh của nó.

PGS. TS. Dương Trọng Hiếu, Phòng khám Đông Phương y quán, Hà Nội cho biết, theo Đông y diếp các có vị cay, tính hơi lạnh, giúp thanh nhiệt giải độc cho cơ thể, lợi tiểu, sát trùng. Chính vì vậy, trong các tài liệu y học cổ truyền cũng đã lưu lại nhiều tác dụng quý từ rau diếp cá.

PGS. TS. Dương Trọng Hiếu, Phòng khám Đông Phương y quán, Hà Nội cho biết, theo Đông y diếp các có vị cay, tính hơi lạnh, giúp thanh nhiệt giải độc cho cơ thể, lợi tiểu, sát trùng. Chính vì vậy, trong các tài liệu y học cổ truyền cũng đã lưu lại nhiều tác dụng quý từ rau diếp cá.

Tinh dầu này chính là công dụng quý của diếp cá. Lá và phần thân bò trên mặt đất của nó có những chất kết hợp cùng với tinh dầu mang tác dụng điều trị bệnh.

Tinh dầu này chính là công dụng quý của diếp cá. Lá và phần thân bò trên mặt đất của nó có những chất kết hợp cùng với tinh dầu mang tác dụng điều trị bệnh.

Chữa táo bón: Sao khô 10g diếp cá, hãm với nước sôi khoảng 10 phút, uống thay trà hàng ngày. Uống trong 10 ngày.

Chữa táo bón: Sao khô 10g diếp cá, hãm với nước sôi khoảng 10 phút, uống thay trà hàng ngày. Uống trong 10 ngày.

Chữa sốt ở trẻ em: Rau diếp cá 30g để tươi, rửa sạch, giã nát, thêm nửa bát nước nguội vào đun sôi, để nguội và uống làm một lần; đồng thời, lấy bã đắp vào thái dương.

Chữa sốt ở trẻ em: Rau diếp cá 30g để tươi, rửa sạch, giã nát, thêm nửa bát nước nguội vào đun sôi, để nguội và uống làm một lần; đồng thời, lấy bã đắp vào thái dương.

 Chữa kinh nguyệt không đều: Diếp cá 40g, ngải cứu 30g,giã nhỏ lọc bằng nước sôi để nguội lấy một bát nước thuốc, cho bệnh nhân uống làm 2 lần trong ngày, uống liền 5 ngày, uống trước kỳ kinh 10 ngày.

Chữa kinh nguyệt không đều: Diếp cá 40g, ngải cứu 30g,giã nhỏ lọc bằng nước sôi để nguội lấy một bát nước thuốc, cho bệnh nhân uống làm 2 lần trong ngày, uống liền 5 ngày, uống trước kỳ kinh 10 ngày.

Chữa viêm âm đạo: Diếp cá 20g, bồ kết 10g, tỏi 1 củ. Cho thuốc vào nồi cùng với 5 bát nước đun sôi thật kỹ. Cho bệnh nhân xông hơi nóng vào chỗ đau, sau đó dùng nước ngâm, rửa chỗ đau. Ngày làm 1 lần, cần làm trong 7 ngày liền.

Chữa viêm âm đạo: Diếp cá 20g, bồ kết 10g, tỏi 1 củ. Cho thuốc vào nồi cùng với 5 bát nước đun sôi thật kỹ. Cho bệnh nhân xông hơi nóng vào chỗ đau, sau đó dùng nước ngâm, rửa chỗ đau. Ngày làm 1 lần, cần làm trong 7 ngày liền.

Chữa mụn nhọt sưng đỏ: Lá diếp cá ăn sống hoặc giã nát đắp vào chỗ mụn nhọt.

Chữa mụn nhọt sưng đỏ: Lá diếp cá ăn sống hoặc giã nát đắp vào chỗ mụn nhọt.

Chữa bệnh viêm tai giữa: Lá diếp cá khô 20g, táo đỏ 10g, nước 60ml sắc còn 200ml chia uống 3 lần trong ngày.

Chữa bệnh viêm tai giữa: Lá diếp cá khô 20g, táo đỏ 10g, nước 60ml sắc còn 200ml chia uống 3 lần trong ngày.

Chữa viêm phế quản: Lá diếp cá, cam thảo đất mỗi thứ 20g. Sắc đặc, uống dần trong ngày.

Chữa viêm phế quản: Lá diếp cá, cam thảo đất mỗi thứ 20g. Sắc đặc, uống dần trong ngày.

Điều trị sỏi thận: 20g diếp cá, 15g rau dệu, 10g cam thảo đất. Sắc uống ngày một thang, uống trong 1 tháng. Hoặc 100g diếp cá, sao vàng, hãm với 1 lít nước sôi trong 20 phút, uống thay nước hàng ngày, uống trong 2 tháng.

Điều trị sỏi thận: 20g diếp cá, 15g rau dệu, 10g cam thảo đất. Sắc uống ngày một thang, uống trong 1 tháng. Hoặc 100g diếp cá, sao vàng, hãm với 1 lít nước sôi trong 20 phút, uống thay nước hàng ngày, uống trong 2 tháng.

Trị mụn nhọt sưng đỏ (chưa có mủ): 12g diếp cá, rửa sạch, giã nát đắp vào mụn nhọt rồi băng lại. Ngày thực hiện 2 lần. Làm trong 3 ngày, mụn nhọt sẽ đỡ sưng đau nhanh chóng. Trị vú sưng đau do tắc sữa: 25g diếp cá khô, táo đỏ 10 quả. Sắc với 3 bát nước còn 1 bát, chia 2 lần uống trong ngày. Uống trong 3 – 5 ngày.

Trị mụn nhọt sưng đỏ (chưa có mủ): 12g diếp cá, rửa sạch, giã nát đắp vào mụn nhọt rồi băng lại. Ngày thực hiện 2 lần. Làm trong 3 ngày, mụn nhọt sẽ đỡ sưng đau nhanh chóng. Trị vú sưng đau do tắc sữa: 25g diếp cá khô, táo đỏ 10 quả. Sắc với 3 bát nước còn 1 bát, chia 2 lần uống trong ngày. Uống trong 3 – 5 ngày.

Trị chứng đái buốt, đái dắt: 20g diếp cá, rau má, rau mã đề mỗi vị 40g rửa sạch, giã nát lọc lấy nước trong. Ngày uống 3 lần. Thực hiện trong 7-10 ngày.

Trị chứng đái buốt, đái dắt: 20g diếp cá, rau má, rau mã đề mỗi vị 40g rửa sạch, giã nát lọc lấy nước trong. Ngày uống 3 lần. Thực hiện trong 7-10 ngày.

Chữa sốt nóng trẻ em: 20g diếp cá, rửa sạch, giã nát lấy nước bỏ bã. Ngày uống 2 lần, dùng đến khi hết sốt. Hoặc 15g diếp cá, 12g lá hương trà loại nhỏ, rửa sạch, nấu nước uống. Ngày uống 2 lần sau bữa ăn. Dùng đến khi hết triệu chứng sốt.

Chữa sốt nóng trẻ em: 20g diếp cá, rửa sạch, giã nát lấy nước bỏ bã. Ngày uống 2 lần, dùng đến khi hết sốt. Hoặc 15g diếp cá, 12g lá hương trà loại nhỏ, rửa sạch, nấu nước uống. Ngày uống 2 lần sau bữa ăn. Dùng đến khi hết triệu chứng sốt.

Chữa đau mắt đỏ do trực khuẩn mủ xanh: 35g diếp cá, rửa sạch, tráng qua nước đun sôi để nguội, để ráo nước, rồi giã nát, ép vào hai miếng gạc sạch, đắp lên mắt sưng đau khi đi ngủ. Thực hiện trong 3 – 5 ngày.

Chữa đau mắt đỏ do trực khuẩn mủ xanh: 35g diếp cá, rửa sạch, tráng qua nước đun sôi để nguội, để ráo nước, rồi giã nát, ép vào hai miếng gạc sạch, đắp lên mắt sưng đau khi đi ngủ. Thực hiện trong 3 – 5 ngày.

Áp-xe vú, sưng đau, người phát sốt: Rau diếp cá 30g, lá đinh lăng 30g, quả ké (sao) 12g, hoa hòe (sao) 16g, ngân hoa 12g, kinh giới 12g, hoàng kỳ 12g, mộc thông 12g, chỉ xác 10g, bồ công anh 20g, cam thảo 16g.

Áp-xe vú, sưng đau, người phát sốt: Rau diếp cá 30g, lá đinh lăng 30g, quả ké (sao) 12g, hoa hòe (sao) 16g, ngân hoa 12g, kinh giới 12g, hoàng kỳ 12g, mộc thông 12g, chỉ xác 10g, bồ công anh 20g, cam thảo 16g.

Sắc ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần. Đồng thời cho dùng bài thuốc đắp ngoài như sau: rau dấp cá 50g, lá mã đề 40g, lá chanh non 30g. Ba thứ giã nhỏ đắp tại chỗ băng lại.

Sắc ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần. Đồng thời cho dùng bài thuốc đắp ngoài như sau: rau dấp cá 50g, lá mã đề 40g, lá chanh non 30g. Ba thứ giã nhỏ đắp tại chỗ băng lại.